Phát triển du lịch làng nghề tại Nam Bộ: Tạo sức sống mới | Du lịch

Rate this post

Một người làm nghề ở Làng nghề đóng đinh, ghe Bà Đài, Đồng Tháp. (Ảnh: Nhựt An / TTXVN)

Nhìn từ góc độ phát triển sản phẩm du lịch, các làng nghề ở Nam Bộ được đánh giá vẫn còn rất nhiều địa chỉ dư, có chức năng để xây dựng sản phẩm, phục vụ hoạt động du lịch.

Trong bối cảnh phục hồi, phát triển du lịch hiện nay với những yêu cầu về sự thay đổi mới sản phẩm, du lịch làng nghề rất cần được các địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp cùng chung tay đổi mới theo hướng gia tăng trải nghiệm, chú thích nhiều hơn những khám phá bản sắc văn hóa kết hợp trong sản phẩm cũng như cuộc sống của dân làng nghề để tạo ra sức hút mạnh mẽ hơn đối với khách du lịch.

Nhiều công thức

Các địa chỉ phương Nam sở hữu hệ thống làng nghề phong phú, khá nhiều làng nghề đã được đưa vào khai thác, phục vụ du lịch cùng với hoạt động sản xuất đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Song, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, bên cạnh những làng nghề thực sự là point to du lịch“Níu chân” du khách ở lại khám phá, tìm hiểu và trải nghiệm, vẫn những điểm đến mới chỉ là “nơi nghỉ chân”, “lướt qua.”

Tiến sĩ Đoàn Ngọc Xuân, Vụ Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương nhận định mặc dù đã có rất nhiều cố gắng của chính quyền ở các địa phương, nhưng nhiều năm qua, chỉ có một số làng nghề được khai thác, đưa vào du lịch chương trình của một số doanh nghiệp lữ hành.

[Tour du lịch gắn với thăm làng nghề nuôi chim yến tại Kiên Giang]

Hơn thế nữa, công việc khai thác này ở một số điểm đến-làng nghề cũng có tự do, chưa được tổ chức một cách quy mô lớn, có hệ thống và có nơi có tính năng tự phát từ các doanh nghiệp lữ hành như yêu cầu đa dạng sản phẩm du lịch cho khách hàng.

Trong khi thực tế, du lịch làng nghề không chỉ đơn giản là xem các nhân viên nghệ thuật làm nghề sản xuất, hay đến mua sắm, tham quan mà khách du lịch but mong muốn được tìm hiểu những nhân văn giá trị trong đó, những vật thể phi giá trị có thể tồn tại qua thời gian ở làng nghề.

Bày sự tiếc nuối khi ở một số làng nghề có rất nhiều năng lực để thu hút khách du lịch, ở lại trải nghiệm nhiều hơn, một hướng dẫn viên du lịch đã chia sẻ: có làng nghề rất độc đáo bài hát lại không thể trở thành điểm đến độc lập đối với lịch hoạt động.

Nếu khách đưa đến tham quan có chỉ sau khoảng 15 phút ở làng nghề hoặc cơ sở sản xuất, du khách chạy lên xe sau khi mua một số sản phẩm nhưng cũng không hiểu hết giá trị, tính năng độc đáo của sản phẩm .

Quy mô làng nghề, không gian thực hành nghề đơn điệu, không lôi cuốn, thu hút khách đến và trải nghiệm nhiều.

Điều khoản khách hàng mong muốn được tìm hiểu nguyên liệu làm ra sản phẩm, giá trị có thể hiển thị ở cách sản xuất quy trình, giá trị, công dụng sản phẩm làm chính người thợ làng nghề chia sẻ, trong những câu chuyện, lịch trình use liên quan đến truyền thống nghề nghiệp mà khách hàng khó có thể tìm thấy ở nơi khác.

Hoặc có trường hợp, bản thân nghề sản xuất truyền thống làng nghề rất hấp dẫn, làng lại có những người làm nghề, nhiệt tình đón tiếp, sẵn sàng trong những câu chuyện làng nghề cho du khách, bài hát khó khăn, thử thách re to from the Hạ tầng giao dịch.

Small Road, down make up doanh nghiệp lữ hành rất khó khăn trong việc tìm kiếm phương pháp đưa ra những khách hàng có số lượng lớn đến tham quan, trải nghiệm.

Tăng cường khai thác hệ thống truyền thông làng nghề giá trị

Phát triển làng nghề du lịch được coi là giải pháp quan trọng trong bảo quản, bảo tồn và tôn vinh những đặc điểm hệ thống văn hóa trị giá, đồng thời hỗ trợ đắc lực cho các khu vực nông thôn chuyển đổi cơ cấu kinh tế. hướng dẫn phát triển, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước cũng như trên thị trường quốc tế.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình tồn tại và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030,” là định hướng quan trọng mở ra nhiều cơ hội mới cho các phương thức hỗ trợ mạnh mẽ để bảo vệ sự phát triển làng gắn kết với hoạt động du lịch trong giai đoạn mới.

Phat trien du lich lang nghe o Nam Bo: Tao suc song moi hinh anh 2Các hộ sản xuất cá khô ở làng nghề truyền thống chế biến cá khô Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. (Ảnh: Công Trí / TTXVN)

This chương trình được xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng là phục hồi, tôn tạo các di tích liên quan đến văn hóa giá trị, làng nghề truyền thống (nhà thờ tổ nghề, không gian, cảnh quan làng nghề); khôi phục tổ chức các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, phát huy các văn hóa trị giá và làng nghề trong xây dựng môi trường du lịch văn hóa, đồng thời tổ chức giá trị chuỗi, phát triển làng nghề gắn kết with du lịch, góp phần phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Từ địa chỉ góc có thế mạnh về phát triển làng nghề du lịch, theo giám đốc Sở Du lịch Kiên Giang Bùi Quốc Thái, tỉnh có Đề án phát triển hệ thống truyền thông ngành du lịch, giai đoạn 2021-2025 , định hướng đến năm 2030.

Kiên Giang xác định phát triển khai thác làng nghề, sản xuất làng nghề để góp phần quảng bá, giới thiệu các văn bản hóa giá trị của nghề truyền thông, bảo đảm không thiệt hại cho các tài nguyên tự nhiên, tuân thủ các tài nguyên môi trường bảo vệ, đóng góp vào cải thiện đời sống dân cư làng nghề.

Tỉnh đề ra các giải pháp nhóm như hoàn thiện cải tiến chất lượng các điểm du lịch làng nghề, nghề truyền thông đã có hoạt động du lịch trước đây để quảng bá phát triển du lịch làng nghề ở địa phương, đồng thời kết nối kinh doanh nghiệm, xây dựng chính sách, quy định cụ thể đối với nghề làng du lịch phát triển.

Tỉnh xây dựng các sản phẩm giá trị chuỗi tham gia làng nghề nhằm tăng hiệu quả của sản xuất nghề truyền thông và hoạt động du lịch, liên kết phát triển tour du lịch kết nối, tuyến đến làng nghề, điểm sản xuất truyền tải system.

Kiên Giang phấn đấu đến năm 2025 có 8 làng nghề truyền thống được đưa vào khai thác du lịch và đến năm 2030 có 22 làng nghề đưa vào khai thác du lịch.

Cùng góc nhìn từ địa phương, nhóm Sáng tạo trẻ Bến Tre gồm Phạm Nguyễn Phúc Toàn, Phạm Nguyễn Khôi Nguyên và Phạm Văn Luân đề xuất: Bến Tre có tới trên 72.000ha trồng dừa, nhiều làng nghề, truyền thống liên quan đến sơ chế, chế biến các sản phẩm từ cây dừa. Do đó, trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch, cần chú ý nhiều hơn đến hàm lượng văn hóa, các giá trị di sản văn hóa phi vật thể có thể kết thúc tinh trong các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc sản, nguyên liệu Sản xuất được hình thành, biến chế từ cây dừa để giới thiệu đến khách hàng.

Các đơn vị khai thác sản phẩm tăng cường chuyển tải, lồng ghép câu chuyện dân gian, giai thoại, sự kiện văn hóa-xã hội, hình ảnh cây dừa trong thế giới thi ca, hội họa, âm nhạc, tạo nét riêng cho sản phẩm du lịch Bến Tre từ văn bản yếu tố hóa địa chỉ gắn với làng nghề, truyền thống nghề nghiệp.

Liên quan đến sự thay đổi mới sản phẩm du lịch, khai thác các điểm đến và thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các địa phương, điểm đến, bà Tạ Thị Tú Uyên, Ban Sản phẩm và dịch vụ, Công ty Du lịch và Tiếp thị giao thông vận tải Việt Nam (Vietravel), cho rằng để thu hút khách trong giai đoạn hiện nay, sản phẩm du lịch cần có sự hoàn thiện, thay đổi. Các đơn vị lựa chọn sản phẩm theo hướng gia tăng trải nghiệm, xây dựng sản phẩm theo chiều sâu văn hóa, phát huy thế mạnh độc đáo của tài nguyên du lịch, đồng thời tạo liên kết tính toán chặt chẽ giữa các thời gian và sản phẩm trong suốt chương trình để tạo nên cảm xúc, ấn tượng cho du khách sau mỗi chuyến đi. /.

Thanh Trà (TTXVN / Vietnam +)

Leave a Reply

Your email address will not be published.