Phát triển kinh tế biển – Bài 1: Tạo đà cản

Rate this post

Các tỉnh ban hành nhiều chương trình, kế hoạch hóa công việc thực hiện Nghị quyết của Trung ương về phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, kinh tế biển ở hai tỉnh này vẫn chưa phát triển phù hợp với chức năng có sẵn, yêu cầu phải có giải pháp căn cứ, mang tính chất phá hoại để có thể phát triển vững chắc hơn trong tương lai.

Phóng viên TTXVN thực hiện chùm hai bài viết phản ánh những nỗ lực của các địa phương trong công việc thực hiện chiến lược đưa ra các cuộc kiểm tra biển trong thời gian tới.

Tàu đánh bắt thủy sản của dân xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tân đậu tại sông Bình Châu. Tư liệu ảnh: Công Trí / TTXVN

Bài 1: Tạo mô hình phá hủy

Bến Tre và Trà Vinh ở cuối nguồn sông Cửu Long, với bờ biển chiều dài hơn 130 km. Nhờ có lợi thế trên, hai tỉnh đã hỗ trợ khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển theo hướng toàn diện, bao gồm: nuôi trồng, đánh bắt, dịch vụ, cá nhân, phát triển du lịch biển trên nhiều lĩnh vực, nhất là hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản và hậu cần dịch vụ cá nhân. Từ đó, tạo phương thức phát triển để phát triển kinh tế- xã hội của hai địa phương này.

Khai thác năng lực, lợi thế

Những năm gần đây, tỉnh Bến Tre tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của 3 huyện ven biển trong lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản. Ông Nguyễn Văn Buội, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre cho biết, tỉnh có 50.000 ha diện tích nuôi dưỡng thủy sản.

Đến nay, Bến Tre khai thác gần 46.000 ha nuôi thủy sản, tổng sản lượng nuôi đạt hơn 298.000 tấn; trong đó, có gần 31.000 ha nuôi tôm biển thâm canh, bán thâm canh, chủ yếu tập trung ở các huyện ven biển Bình Đại, Thạnh Phú và một phần ở huyện Ba Tri. Đặc biệt, mô hình nuôi tôm công nghệ cao ở Bến Tre đang phát triển khá mạnh, diện tích ngày càng mở rộng. Hiện tỉnh có hơn 2.300 ha nuôi tôm công nghệ cao, năng suất bình quân từ 60-70 tấn / ha.

Nuôi trồng, khai thác thủy sản của tỉnh cũng ngày càng phát triển, với sản lượng tấn công khoảng 210 / năm. Ngoài ra, hậu thuẫn dịch vụ cần cá, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, với các công ty tư vấn cá và khu neo đậu tránh bão. Bến Tre hiện có 3 món cá, gồm: Ba ​​Tri, Thạnh Phú và Bình Đại tiêu chí loại II; 2 khu neo đậu tránh bão Bình Đại và khu neo đậu tránh bão huyện Thạnh Phú.

Trong khi đó, tỉnh Trà Vinh có 65 km bờ biển với một trường lớn. Với chức năng, lợi thế có sẵn, nên tỉnh luôn xác định khai thác nguồn lợi từ kinh tế biển là con đường phát triển kinh tế – xã hội thuận lợi, nhanh và ổn định. Vì thế, Nghị quyết đại hội Đảng bộ qua nhiều nhiệm kỳ, Trà Vinh luôn chú trọng ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các địa điểm biển, tạo nền tảng vững chắc để khai thác nguồn lợi kinh tế from sea.

Ông Nguyễn Quỳnh Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh cho biết, tỉnh có luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu xuyên qua địa phận tỉnh Trà Vinh thông tin với biển Đông, kết nối liên kết Cái Cui (Cần Thơ). Đây là công trình quan trọng giúp Trà Vinh trở thành đầu mối giao thương hàng hóa với quốc tế thông qua con đường vận tải biển. Đặc biệt là đối với hàng hóa nông nghiệp, thế mạnh của tỉnh Trà Vinh, được tiếp cận thị trường trong nước, tiểu vùng sông MeKong và cộng đồng kinh tế ASEAN.

Cùng với luồng tàu biển, tỉnh còn có Khu kinh tế Định An, là 1 trong 8 khu kinh tế ven biển trọng điểm của cả nước được Trung ương đầu tư nhằm khai thác năng lực kinh tế biển, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội và tăng trưởng công nghiệp địa phương nói riêng, Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Bên cạnh đó, tỉnh có nhiều lợi thế phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, với gần 34.000 ha nuôi trồng và gần 1.200 tàu đánh bắt…

Chú thích ảnh
Các trụ điện của nhà máy Điện gió Đông Hải I (Trà Vinh). Ảnh: TTXVN phát

Ngoài thế mạnh về nuôi trồng, khai thác thủy sản, gần đây, tỉnh Bến Tre và Trà Vinh còn phát triển mạnh nguồn năng lượng tái tạo từ lợi thế biển. Các công trình điện gió đi vào hoạt động và góp phần quan trọng trong ngành du lịch phát triển, tạo thêm điểm nhấn trong du lịch sinh thái biển.

Giám đốc Sở Công Thương Bến Tre Nguyễn Văn Bé Sáu cho biết, hiện tỉnh đã được Bộ Công Thương phê duyệt vào quy hoạch 19 dự án điện gió với tổng công suất hơn 1.007 MW. Đến nay, có 9 dự án với công suất khoảng 368 MW đang triển khai bên ngoài thực địa, thi công lắp đặt hoàn thành với công suất 270 MW; trong đó, 5/9 dự án kịp nhận vận hành thương mại trước ngày 31/10/2021 với công suất 93,05 MW, phần còn lại tiếp tục triển khai thi công hoàn chỉnh.

Đến nay, UBND tỉnh Trà Vinh quyết định chấp nhận chủ đầu tư 9 dự án điện gió; trong đó, có 5 công ty điện gió đã vận hành hòa vào lưới điện quốc gia, với 79 trụ tuabin gió trải dài từ vùng biển xã Hiệp Thạnh, thị xã Duyên Hải đến xã Đông Hải, huyện Duyên Hải, với đầu tổng vốn tư hơn 16.000 tỷ đồng, công suất tổng 320 MW. Theo tính toán, hằng năm công trình này cung cấp nguồn năng lượng sạch với sản lượng điện khoảng 1.200 tỷ kWh, doanh thu đạt trên 1.300 tỷ đồng, nộp ngân sách 500 tỷ đồng.

Tầm nhìn chưa phát triển

Tuy có năng lực và lợi thế, nhưng nhìn nhận một cách khách quan, kinh tế biển ở Trà Vinh và Bến Tre nhiều năm qua vẫn chưa phát triển tầm nhìn như kỳ vọng của địa phương. The big mode for the province in the gioi kinh tế biển phát triển là nguồn nội lực về ngân sách không đủ thực thi những giải pháp để tạo ra các cơ quan quyền lực.

By, to khai thác hiệu quả tiềm năng từ biển, các phương pháp cần giải quyết hàng loạt vấn đề về cơ sở hạ tầng kỹ thuật từ giao thông, thủy lợi, đến các ngành công nghiệp biến, chế tạo, năng lượng, khoa học kỹ thuật, lực lượng lao động có trình độ, tay nghề cùng với các loại hình dịch vụ chất lượng cao như logistics, thương mại, du lịch,…

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Nguyễn Trúc Sơn, nhìn tổng thể, kinh tế biển và vùng ven biển của tỉnh có chức năng nhưng chưa được phát huy đúng mức. Địa chỉ thiếu nguồn lực để tạo ra hiệu lực tăng trưởng, quy mô kinh tế nhỏ, không thực sự tạo ra hiệu lực tăng trưởng có tính chất quyết định cho kinh tế của tỉnh phát triển nhanh, vững chắc và lâu dài.

Cụ thể, tỉnh mạnh về nuôi tôm nhưng không thu hút được nhà đầu tư xây dựng nhà máy xuất khẩu, nên giá trị gia tăng không đạt được như tiềm năng mong muốn. Hơn nữa, hiệu quả nghề nuôi thủy sản không thực sự ổn định và vững chắc; vẫn còn ẩn nhiều rủi ro và công thức làm thiên tai, bệnh dịch, môi trường, trường tiêu thụ; Dịch vụ và hậu cần dịch vụ sau khi phát triển chậm.

Chú thích ảnh
Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh công nghệ cao hai giai đoạn ở xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ảnh minh họa: Công Trí / TTXVN

Các hoạt động du lịch tuy theo quy hoạch định hướng nhưng mang tính chất tự phát. Mặt khác, tác động của biến khí hậu đến kinh tế và đời sống người dân ngày càng nghiêm trọng. Do that, cần sự thay đổi về tư duy, nhận thức phát triển trong tiền cảnh ứng với sự thay đổi khí hậu, nước biển và tác động từ quá trình nhập kinh tế như hiện nay.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh Nguyễn Quỳnh Thiện sáng tỏ, thực tế cho thấy, ở lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản, với diện tích gần 34.000 ha nuôi thủy sản vùng nước mặn và lợ, hàng chục năm qua, tỉnh chỉ mới bố trí thực hiện khoảng 800 ha nuôi tôm siêu canh ứng dụng công nghệ cao; gần 1.200 tàu đánh bắt thủy sản chủ yếu là tàu nhỏ, ngư cụ, máy móc, thiết bị đánh bắt chưa đủ sức mạnh và hiện đại. Vì vậy, tái cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh qua thời gian chuyển đổi chậm, tăng trưởng của ngành này không cao và thiếu kiên cố.

Thêm vào đó, khu Kinh tế Định An sau 12 năm thành lập đến nay chỉ mới thu hút được trên 50 dự án, với tổng vốn đăng ký đầu tư gần 155.000 Tỷ đồng (tương đương 6,7 Tỷ USD); trong đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 2,71 tỷ USD với các lĩnh vực như: tàu biển, hậu cần, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời, kho xăng dầu, siêu thị, nhà máy chế biến thủy sản, khu nuôi tôm giống, xây dựng vật liệu (gạch tuynen, gạch không nung), du lịch sinh thái biển, giải trí, lĩnh vực giáo dục, y tế, khu đô thị…

Nơi đây vẫn chưa thu hút được nhiều dự án lớn, quan trọng, các nhà đầu tư trong nước còn nhỏ lẻ, số lượng nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài còn ít, thiếu đầu tư những ngành nghề tạo thế mạnh hoạt động vào sự phát triển kinh tế- xã hội. Từ đó, đóng góp của khu kinh tế này còn lại tự do, không thể hiện vai trò tác động lực phát triển như mục tiêu đề, ông Nguyễn Quỳnh Thiện chia sẻ.

Bài 2: Những mới động lực

Leave a Reply

Your email address will not be published.