Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Hậu Giang

Rate this post

Phát triển du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV được xác định. To phát triển du lịch, bên ngoài thiên nhiên tài nguyên tố, địa chỉ định vị, kết cấu hạ tầng, thì nguồn nhân lực là một trong các yếu tố không thể thiếu, mang tính chất quyết định đến chất lượng “công ty “no”. Do đó, để phát triển du lịch, chuyên nghiệp, Hậu Giang cần đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao từng bước nâng cao chất lượng phục vụ phát triển du lịch của tỉnh.

Đào tạo nguồn nhân lực phát triển du lịch là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng du lịch ở Hậu Giang.

Du lịch là phụ thuộc rất nhiều vào người phụ thuộc. Điều khiển các sản phẩm du lịch trở nên khác biệt và hấp dẫn hơn là cách thức làm cho khách hàng thực sự thoải mái và có ấn tượng sâu sắc trong suốt quá trình thụ hưởng các sản phẩm du lịch theo cách của mình. Việc làm hài lòng khách hàng hỏi người lao động vừa phải có chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, vừa gây được tín nhiệm, ấn tượng tốt đối với khách hàng. Vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng.

Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ (2021 – 2025), đề ra nhiều nhiệm vụ và giải pháp quan trọng. Bên cạnh việc nhấn mạnh nội dung về công việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của các tổ chức và quản lý chất lượngthì trong nội dung phát triển kinh tế – xã hội, Đại hội đã rất quan tâm đến việc tận dụng tiềm năng, phát triển du lịch, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 09-NQ / TU ngày 10/6/2014 của Tỉnh ủy về phát triển du lịch Hậu Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Date 26/11/2021, Ban Chấp hành Đảng bộ ban hành Nghị quyết số 04-NQ / TU về việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp, đô thị và du lịch. Một trong những quan trọng của nhiệm vụ mà Nghị quyết số 04 đề cập là khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về du lịch, phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Khai thác và phát huy hiệu kết quả mô hình du lịch: nông nghiệp, cộng đồng, sinh thái, tâm linh, … gắn với nông thôn mới xây dựng trên địa bàn Tỉnh. Thường xuyên phát triển, đào tạo nguồn nhân lực lượng đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch của Tỉnh trong giai đoạn mới. Xây dựng liên kết và kết nối với các tour du lịch, tuyến đường; đồng thời, đẩy mạnh công việc truyền thông, quảng bá, xúc tiến du lịch; phát huy giá trị các làng nghề, khuyến khích phát triển ẩm thực, văn hóa, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch.

Với mục tiêu xây dựng thương hiệu sản phẩm, nâng cấp đời sống vật chất, xây dựng con người Hậu Giang thân thiện, mến khách. Trong những năm qua, ngành du lịch Hậu Giang có nhiều chuyển động tích cực, số lượng và chất lượng du lịch được nâng lên tầm cao mới, ngày càng có nhiều di tích, danh lam, với nhiều mô hình du lịch độc độc đáo như: homestay, du lịch miệt vườn, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh… đang thu hút sự chú ý của nhiều khách du lịch.

Tuy nhiên, công việc khai thác những lợi ích về du lịch ở Hậu Giang còn nhiều nơi không thực sự phù hợp với vị trí của tỉnh. Nhiều người mới xuất hiện mô hình nhưng cũng nhanh chóng bị mai một và mất dần dần; công ty du lịch được đầu tư hoành tráng nhưng không thu hút, giữ chân được khách hàng trong thời gian dài; hệ thống các khu vui chơi, giải trí, dịch vụ còn thiếu, không hấp dẫn được du khách; sản phẩm du lịch còn đơn điệu, không đa dạng về mã mẫu, định dạng, không có sản phẩm du lịch đặc thù; sự liên kết của các tỉnh với các vùng, miền để phát triển du lịch chưa được phát huy; đầu tư vốn để nâng cao chất lượng du lịch không cao; đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành du lịch còn nhiều hạn chế… và đang là những lực cản lớn đối với ngành du lịch của tỉnh. Để phát triển du lịch có hiệu quả thì vai trò của con người tiền tố là một trong những cơ bản tiền tố. Do đó, ở nội dung bài viết này, tác giả đi sâu vào phân tích nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang hiện nay.

Trong những năm qua, công tác đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh say Chung has to the active variable step. Đội ngũ lao động trong lĩnh vực du lịch tăng lên, chất lượng bước đầu có sự cải thiện. Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 10 cơ sở lưu trú đạt chuẩn của máy chủ du lịch, 03 đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa và 05 khu, điểm du lịch. Số lượng lao động trực tiếp trong ngành ngày một tăng lên. Công tác đào tạo nguồn nhân lực của máy du lịch luôn được Hậu Giang đặc biệt quan tâm: ngành du lịch tỉnh thường xuyên liên kết mở các lớp sơ cấp nghề du lịch (máy bàn, máy lưu trú và kỹ thuật cắt , rau, củ, quả), lớp sơ cấp chế biến món ăn căn bản, lớp huấn luyện cho dân vùng lãnh đạo Long Trị và khóm Cầu Đúc; lớp huấn luyện về du lịch cho dân ở nông thôn mới Vị Thanh. Các lớp huấn luyện cung cấp các khái niệm kiến ​​thức về du lịch nói chung, đặc biệt là du lịch cộng đồng, các hoạt động kinh doanh của du lịch cộng đồng, du lịch lưu trú tại nhà dân, các mô hình kinh doanh du lịch cộng đồng hiệu quả ở một số địa phương, cách khai thác và kinh doanh các sản phẩm du lịch tại cộng đồng.

Đặc biệt, tỉnh ban hành Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 – 2020, đây là cơ sở để đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở địa phương, góp phần nâng cao tay nghề cho lao động ngành du lịch trong giai đoạn 2016 – 2020 và những năm tiếp theo, góp phần quảng cáo hình ảnh con người Hậu Giang, tạo điểm nhấn cho ngành du lịch tỉnh nhà.

Tuy nhiên, so với nhu cầu of the activity du lịch hiện nay và yêu cầu phát triển trong những năm tiếp theo, nguồn nhân lực du lịch của tỉnh còn nhiều bất cập, chưa Đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu. Trong những năm qua, Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch vẫn còn thấp so với tổng số lao động trong ngành du lịch. Số lượng lao động có chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề còn ít, thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật cao và bộ quản lý giỏi về quản lý và điều hành kinh doanh du lịch.

Show this, on the table of the province 20 cơ sở dạy nghề nhưng không có cơ sở đào tạo chuyên ngành về du lịch các nghề. Số lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch là 1.043 người (chưa thống kê số lượng lao động, lao động tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ và tại các nhân cơ sở). Mỗi năm, số lao động tăng quân khoảng 5%. Trong tổng số lao động trong lĩnh vực du lịch, chỉ có 225 lao động được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, chiếm 20% tổng số lao động của ngành. This lao động chủ yếu tập trung tại các cơ sở lưu trú tiêu chuẩn, các khu vực, điểm du lịch và các đơn vị kinh doanh lữ hành. Thực tế this cho thấy, đa phần của các dịch vụ doanh nghiệp chưa xem quan trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng, nghiệp vụ và chất lượng phục vụ hạn chế.

Cùng với đó, hiện tại người lao động có trình độ được đào tạo chuyên ngành du lịch chuyển sang làm việc tại các địa phương khác, sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành du lịch không quay về địa phương làm việc ngày càng nhiều chính sách Ưu đãi, thu hút nguồn nhân lực của các doanh nghiệp và các địa phương khác có sức thu hút hơn, đó là những người làm giảm sức mạnh cho đội ngũ lao động về du lịch có chất lượng cao.

Nhiều năm qua, theo đánh giá của các đơn vị sử dụng người lao động, thì chất lượng của học viên chuyên ngành du lịch sau khi đào tạo của tỉnh chưa cao. Điều đó, xuất ra từ nhiều nhân nguyên nhưng đa số trường vẫn không thoát khỏi lối mòn của quy chế đào tạo tại chỗ, công cụ có thể là: thiếu cơ sở thực hiện, không phải là hệ thống mới nhất của chương trình giáo dục. , Thiếu ngũ giáo viên được đào tạo chuyên ngành, máy chủ chưa định hướng (phần lớn hướng đến máy chủ trong nước, không quan trọng đối với du khách quốc tế) dẫn đến một phần nhỏ không học viên ra trường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp du lịch cả về nghiệp vụ và giao tiếp, ngoại ngữ.

Từ thực hiện vấn đề trên, để phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về mọi mặt, chúng tôi đề xuất một số giải pháp, các kiến ​​nghị sau:

A is, đẩy mạnh tư vấn cho cơ sở vật chất, thiết bị trang; server cho phép nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Đẩy mạnh xã hội hóa, vận hành xây dựng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng máy chủ đào tạo, giảng dạy (phòng thực hành đạt chuẩn, phòng học chuyên môn …), thiết bị trang, công cụ dạy học phù hợp và đạt tiêu chuẩn với các trường, các trung tâm đào tạo nghề nghiệp. Khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đầu tư xây dựng – dạy nghề du lịch theo nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp. Huy động các nguồn lực để đầu tư cho các trường, trung tâm đào tạo nghề nghiệp du lịch của tỉnh. Quy hoạch dự án phát triển du lịch nhằm mục đích thu hút và tạo ra công việc cho người lao động.

Hai is, thực hiện tốt các chính sách, hiện hành chế độ của Nhà nước đối với các đối tượng tham gia học nghề theo Đề án phát triển du lịch. Xây dựng và ban hành chính sách của tỉnh nhằm hỗ trợ thúc đẩy đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp du lịch đầu tư cho đào tạo – dạy nghề và làm việc sau đào tạo. Bố trí một phần đầu tư kinh phí cho ngành du lịch về chất lượng cơ sở phục vụ cho công việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Cần có cơ chế thu hút các chuyên gia, thợ lành nghề, Bộ phận quản lý giỏi trong lĩnh vực du lịch đến công việc và làm việc tại tỉnh, qua đó, tổ chức tọa đàm, hội thảo, Nghiên cứu thực tế để nguồn nhân lực du lịch có điều kiện giao lưu, chia sẻ học hỏi kinh nghiệm trong phát triển du lịch. Điều tra, khảo sát thực tế về trình độ lao động hiện có, Nghiên cứu hệ thống cung cấp – yêu cầu lao động du lịch thông qua các nguồn đào tạo về du lịch và yêu cầu sử dụng các đơn vị kinh doanh du lịch .

Ba là, tuyên truyền các chủ trương rộng, chính sách của Đảng, Nhà nước and of the address of the public training source of the kernel said General, the training source of the kernel of the du lịch nói riêng để cấp cho Đảng ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ sở đào tạo và nhân dân biết, tích cực triển khai thực hiện chủ trương – dạy nghề phát triển nhân lực.

Four is, đa dạng hóa các chương trình đào tạo, đào tạo lại với nhiều hình thức. Trên các cơ sở đào tạo theo quy định, các cơ sở đào tạo cần nghiên cứu, thay đổi mới và biên soạn chương trình đào tạo – dạy nghề phù hợp với chương trình đào tạo, ưu tiên biên soạn giáo trình dạy nghề ngắn hạn có hệ thống truyền thông, đặc thù của tỉnh. Liên kết với các đơn vị đào tạo trong và ngoài tỉnh xây dựng chương trình giảng dạy về du lịch cho học sinh, sinh viên, nâng cao nhận thức của cộng đồng, nhất là thanh niên, sinh viên, sinh viên đối với hoạt động du lịch. Gắn tác giả đào tạo nguồn nhân lực du lịch và sử dụng lao động theo yêu cầu thực hiện công việc kinh doanh, dịch vụ của tỉnh, đồng thời thực hiện tốt công việc quyết định.

Year is, có dương chính sách, tôn vinh các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có đóng góp tích cực đối với các nội dung của Đề án; has the positive resource to be used to use the single Lao Động không qua đào tạo, không đáp ứng đúng quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp du lịch đầu tư kinh phí đào tạo cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo theo quy định của Bộ Luật Lao động và Luật Giáo dục, có quy định về trách nhiệm của người học and khuyến khích chế độ để nâng cao kết quả học tập của người học.

Hậu Giang có tiềm năng về du lịch hết sức phong phú, đa dạng và du lịch có vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Bên cạnh những thành quả đạt được, trong những năm qua khai thác tiềm năng du lịch để phát triển kinh tế – xã hội ở Hậu Giang vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch trong thời kỳ hội nhập. Do đó, chú trọng đầu tư các nguồn lực phát triển du lịch, nhất là chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng, góp phần tích cực vào công việc khai thác có hiệu quả của năng lực du lịch. thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của Hậu Giang thời gian tới.

THANH TÂM – NGỌC VẸN

Leave a Reply

Your email address will not be published.